Lược sử về loa phòng thu

0
205
Loa phong thu

Lịch sử của loa phòng thu

Loa phòng thu – STUDIO MONITOR – là sản phẩm sản phẩm được ngoại hình chuyên biệt cho các nhu cầu xuất ra âm thanh trong số phòng thu âm, làm phim, chương trình truyền hình, phát sóng radio… Bởi vậy, đuối tố phổ biến nhất của một đôi studio monitor là âm thanh chính xác.

Khái niệm cơ bản
trong số mẫu hàng âm thanh, cụm từ MONITOR có nghĩa là chúng được ngoại hình để phát ra những bước sóng và tần số thật phẳng. cụ thể hơn, chúng ko được phép tôn lên hay đè nén một dải tần nào đó mà phải diễn đạt chính xác những gì có trong bản thu gốc. Đồng thời, chúng cũng không được phép thay đổi bất cứ pha sóng nào nhằm giảm méo âm tần trong những bản thu stereo.

Loa phong thu

1 số loa phòng thu cũng được đặt ở trên kệ hay bàn ở khoảng cách gần, sao cho âm thanh truyền đi thẳng từ màng loa tới tai người dùng chứ không bị dội lại từ bức tường phía sau hay trần nhà. Những mẫu loa này được gọi là loa near-field/close-field/compact.
Loa phòng thu thường được ngoại hình đảm bảo, bền bỉ hơn các dàn loa tại nhà, bởi chúng hoặc phải chịu đựng những sự thay thế bất ngờ về âm lượng – điều thường ngày xảy ra khi phát những bản phối chưa hoàn thiện trong phòng thu.

Phân khúc của loa phòng thu
Các đơn vị, tổ chức truyền thông, truyền hình và âm thanh, những người cần có thứ âm thanh thật cân bằng trong giai đoạn chỉnh sửa và hòa âm cho các bài hát đều sẽ cần tới loa phòng thu. Những kĩ sư âm thanh nhờ đó mà có khả năng tạo ra được các bản thu chất lượng cao nhất có khả năng cho càng nhiều nhân tố phát khác càng tốt, từ bộ âm thanh tại gia, âm thanh trên xe hơi cho tới đài radio và cả loa boombox.
Các đài truyền hình lớn như BBC vẫn chỉ tin dùng những mẫu loa phòng thu có cao cấp cao nhất có thể, nhưng 1 số người thì cho rằng họ nên áp dụng Các loại loa bình thường với chất lượng vừa phải – thứ mà hầu hết khán giả đều sử dụng. Tuy nhiên, vì nhà đài luôn phải xử lý nhanh chóng các nội dung trực tiếp nên những loa phòng thu chất lượng cao sẽ tận dụng tác dụng tốt hơn, giúp họ tránh giới hạn các vấn đề nảy sinh trong giai đoạn thực hiện.
Thực tế, hầu hết các phòng thu chuyên nghiệp đều phải có ít nhất là vài sản phẩm loa khác nhau, trải rộng trên nhiều thị trường, từ loa cỡ lớn dùng trong rạp chiếu phim, loa hi-fi, loa ô tô cho tới loa di động, PC và cả các model tai nghe thông dụng.
Âm ly cũng là 1 đuối tố phổ biến trong loa phòng thu. Có hai dạng loa phòng thu là loa chủ động (active) là loa thụ động (passive). Trong khi loa thụ động dùng Amly rời bên ngoài thì loa chủ động được set up/ sẵn Âm li. Loa active thường có 2 Amly riêng và một bộ phân tần, tự động tách âm cao và chuyển tới loa tweeter hay horn, còn các âm trầm thì chuyển tới woofer. ngoại hình này giúp âm thanh phát ra sạch sẽ, chính xác hơn, và cặp khi cũng được áp dụng trong số dàn loa thông dụng chứ ko chỉ riêng loa phòng thu.

Cột mốc đáng nhớ
trong số 5 đầu tiên, từ khoảng 1920 đến 1940, những chiếc loa phòng thu thường được sử dụng để kiểm tra độ nhiễu và các lỗi kĩ thuật chứ không phải để Đánh giá về mặt nghệ thuật của các bản thu. Cũng chính do đó, loa phòng thu khi đó cũng được ngoại hình vô cùng dễ dàng, trong khi Các loại loa phục vụ chiếu phim thì được ưu ái hơn cả với kích thước lớn, tích hợp kèn, dù thậm chí còn chưa được nâng cấp lên âm thanh đa kênh.
Vài 5 sau đó, Altec Lansing xuất ra cặp loa phòng thu chất lượng đầu tiền có tên gọi Duplex 604. model loa này đã trở thành biểu tượng của cao cấp tại Mỹ, bên cạnh loại Iconic có kích thước nhỏ hơn cũng rất vang dội bởi các studio điện ảnh.
Kể từ khi ra đời vào 5 1944, Duplex 604 đã giữ vững vị trí của nó trong ngành công nghiệp âm thanh với 11 phiên bản nâng cấp trong vòng 25 năm. Thậm chí, đến năm 1998 người ta mới ngừng bán ra loại loa này hoàn toàn.
Tại Anh, chiếc Dual Concentric được đánh giá là phiên bản tương đương của Altec 604 dành riêng cho thị trường này. BBC hồi đó đã thực hiện hàng loạt khảo sát trên rất nhiều loại loa thông dụng mà chẳng tìm được bất kì sản phẩm nào vừa ý, ngoại trừ Dual Concentric của Tannoy.

Tại sao BBC không áp dụng Duplex 604 từ bên kia Đại Tây Dương? Câu trả lời là là do sự kén chọn của hãng và sự thua kém của 604 về khả năng đáp ứng tần số. so với Dual Concentric, 604 tỏ ra mệt hơn ở một số mặt, và sự tồn tại của 604 sau đó cũng chỉ là bởi các nhà giới thiệu và kĩ sư âm thanh tại Mỹ đều đã quá quen làm việc cùng nó, và việc thay mới 604 bằng một loại loa hoàn toàn khác là sẽ tốn quá nhiều thời gian, và cả chi phí đi kèm.
Tuy nhiên, lý do mà các model đưa ra để giữ 604 lại là rất hợp lý. Nguyên nhân là bởi sự thay mới đột ngột có khả năng khiến các kĩ sư âm thanh dễ mắc phải sai lầm lớn trong quá trình phân phối, trong khi để mọi người tập làm quen được với các mẫu loa mới thì lại quá tốn kém. Vậy nên sau cùng, họ cũng bằng lòng với những hạn chế của 604.
Tuy nhiên, vào năm 1959 – đỉnh điểm của sự nâng cấp, Altec lại mắc phải 1 sai lầm lớn khi thay mới 604 bằng dòng 605A Duplex với các thông số được coi là thua kém cả model tiền nhiệm. Các đơn vị sản xuất âm nhạc bắt đầu lên tiếng phản đối, và Đây là lúc mà đối thủ JBL chính thức bước chân vào thị trường loa phòng thu tiên tiến.
Capitol Records đã thay thế các model loa Altec của họ bằng chiếc JBL D50. Vài 5 sau, đối tác có tên EMI tại Anh Quốc cũng bắt đầu chuyển sang sử dụng mẫu hàng của nhãn hiệu này. Kể cả khi Altec sản xuất thế hệ mới hơn của 604 ít lâu sau, họ vẫn không thể đấu lại với JBL. Thậm chí, hầu hết những sáng tạo và phát kiến mới ở thị trường loa phòng thu trong số 5 tiếp theo cũng đều được đưa ra bởi JBL chứ không phải Altec.
Cuối những 5 1960, JBL trở lại với hai dòng loa phòng thu mới là 4320 và 4310 giúp họ đánh dấu sự ưu việt trong ngành công nghiệp. Chiếc 4320 được xem là đối thủ trực tiếp của Altec 604 nhưng có lợi thế về độ chính xác và công suất, nhanh chóng đưa nó trở thành tiêu chuẩn mới. Tuy nhiên, kích thước của 4310 nhỏ hơn mới thật sự là một cuộc cải cách với thuật ngữ “trường gần” – “near-field” tới đại chúng, cho phép nghe ở khoảng cách gần hơn, chỉ khoảng 0,9 – 1 mét, làm giảm hẳn sự sai lệch về âm thanh khi ít chịu tác động của phòng.

Vài 5 sau đó, JBL tiếp tục chứng minh được vị thế với phiên bản làm tăng 4311 mà sau đó vang dội trong cả thập kỉ 70. Hãng còn tung ra 1 thế hệ phổ thông dành cho các hệ thống âm thanh tại căn hộ mà chỉ trong vài năm đã trở thành bộ loa hi-fi bán chạy nhất thời bấy giờ. Kể từ năm 1975, JBL đã ghi danh là một trong các thương hiệu đáng tin cậy của phần lớn các phòng thu.
Xu hướng sử dụng các hệ thống loa cỡ lớn đạt tới đỉnh điểm vào những 5 cuối 1970, và chỉ kết thúc khi làn sóng “thu âm tại nhà” nổi lên. Những chiếc loa phòng thu cao cấp của JBL bắt đầu bị thay thế bởi chọn lựa rẻ hơn, nhỏ gọn hơn, điển hình là Yamaha NS-10 dù ban đầu, model loa này được hướng tới đối tượng người sử dụng thông thường chứ ko phải chuyên nghiệp.
Cho tới giữa những năm 1980, những seri loa trường gần đã trở thành một phần không thể thiếu trong những phòng thu bên cạnh các model loa treo tường cỡ lớn khác. Dù là đã có công khai mở cho xu hướng loa near-field, nhưng sự nâng cấp của loa treo tường, điển hình là các loại mẫu hàng của Eastlake/Westlake với ba đường tiếng, có tích hợp kèn, ngoại hình dựa trên chiếc 604 của Altec đã khiến cho cái tên JBL chìm dần vào quên lãng.
1 trong những xu hướng được đề nghị nhất là sự làm tăng của loa nón mềm (soft-dome). Chúng hoạt động 1 cách hết tầm mà không cần sử dụng đến kèn – thiết kế vốn dễ gây khó chịu sau khi sử dụng trong thời gian dài. Các loa nón mềm thiết yếu nhất thời bấy giờ đến từ các nhãn hiệu như Roger Quested, ATC, NeilGrant và PMC. Các loại loa này thường có sẵn bộ tần chủ động, Ampli gắn trong và ghi điểm ở khả năng giảm thiểu hết tầm nhiễu trong những dải âm trung và cao.

Vào những năm 2000, xu hướng loa phòng thu (và cả loa gia đình) bắt đầu chuyển dần sang các model có sẵn Amlyhay còn gọi là loa active. ngoại hình này khiến yếu tố/ giới hạn cả về âm than lẫn hình thức và chi phí.
Cho đến thời điểm này, vẫn còn những tranh luận về việc nên hay không nên áp dụng loa phòng thu chất lượng để xử lý âm thanh. Bởi 1 số người quan niệm rằng, cần có sự đồng bộ từ phòng thu tới phân khúc nghe nhạc. Trong khi đó, 1 số khác khẳng định, loa phòng thu phải thật chất lượng, với âm thanh tự nhiên, cân bằng để kỹ sư có khả năng xử lí chính xác nhất.

Hoài Bắc