Thường thì trong audio sẽ là dòng điện một chiều

Dòng điện trong audio được thiết kế như nào

Các công ty đôi khi cảm thấy cần phải phát minh ra 1 lý do kỹ thuật nào đó để giải thích tại sao dây của họ nghe cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế, bề ngoài dây là một một nghệ thuật “ khá bí ẩn” với những kiểu dáng bắt mắt bên ngoài nhưng khi nghe kỹ lại có rất nhiều những vấn đề phiền phức và lỗi kỹ thuật.

Mặc dù những chuẩn dẫn điện, chất cách điện và cấu hình dây rõ âm có những Đặc điểm âm thanh riêng biệt nhưng những bề ngoài dây được đánh giá là đạt không thể chỉ được lột tả bởi những thuật ngữ kỹ thuật. Điều này lý giải vì sao ko nên chọn lựa dây mà chỉ dựa vào những thông tin và mô tả kỹ thuật của dây. Tuy nhiên trong một số tình trạng cũng cần phải chú ý đến ba thông tin kỹ thuật có liên quan đến dây đó là: điện dung, độ tự cảm và trở kháng. Điện trở của dây, thường được gọi là điện trở dòng điện 1 chiều, là sự đo lường mức độ cản trở seri điện đi qua dây. Đơn vị đo của điện trở là ohm.

Ohm càng thấp thì sự cản trở seri điện của dây càng thấp. Điện trở ko phải là đuối tố ảnh hưởng đến sự trình diễn của dây tín hiệu (trừ một số model dây mới ko có tính kim lọai), nhưng lại ảnh hưởng đến 1 số dây loa Nhất là những dây mảnh do các dây loa cần phải truyền đi model điện có cường độ cao. Âm thanh của dây có khả năng bị ảnh hưởng bởi độ tự cảm của dây. Độ tự cảm của dây càng thấp thì càng chất, Đặc biệt là ở trong dây loa. Tuya nhiên một vài Amplifier công suất cần phải có một mức độ tự cảm cần thiết để có khả năng họat động ổn định, nhiều Ampli khác thì có phần cảm điện đầu ra được gắn vào các trạm cắm của loa (bên trong các chassis).

Khi tính độ tự cảm quan trọng cho Amplifier công suất thì cần phải cộng cả trở kháng của dây vào độ tự cảm của loa. Điện dung là 1 yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến dây tín hiệu, Đặc biệt là khi cần phải chạy dây tín hiệu dài hoặc là khi thành phần nguồn có trở kháng đầu ra cao. Điện dung của dây tín hiệu được đo bằng số picofarads/foot (1foot = 0,3048m). Điều cần thiết không phải là điện dung bên trong của dây mà là tổng điện dung gắn vào bộ phận nguồn. Ví dụ, 1 dây tín hiệu dài năm feet có điện dung 500pF sẽ có tổng điện dung bằng với dây có chiều dài 50 feet với điện dung là 50pF. Điên dung trong dây tín hiệu cao sẽ khiến cho âm treble bị mất đi và dải động bị hạn chế.