Woodpecker bản nâng cấp – mâm đĩa than giá hợp lý

0
267
Dr. Feickert Analogue Woodpecker

Dr. Feickert Analogue giới thiệu mâm đĩa than Woodpecker phiên bản nâng cấp

Nhãn hiệu Dr. Feickert Analogue (Đức) vừa cho bán ra một phiên bản đặc biệt của mâm Woodpecker với gói phát triển tối ưu, hiện thế hệ này chỉ mới có mặt tại Mỹ.

Dr. Feickert Analogue Woodpecker

Mâm Woodpecker thế hệ chất lượng bên cạnh đó cần tay 12 inch Jelco, máng Acoustical Systems Arché, kim Ortofon Cardenza Brone cùng bộ dây nối trong cần Ortofon 6NX TS W-1010. Tổng cộng thành phần này có giá vào khoảng 10.000USD.

Thiết kế và cấu tạo

Mâm than Dr. Feickert Analogue Woodpecker được phân phối lần đầu vào năm 2008 và trong suốt quãng thời gian qua thiết kế này đã qua nhiều lần được làm tăng và cải tiến. Trong 5 2012-2013 Woodpecker đã được làm tăng hệ thống trục quay mới, motor, bộ điều tốc, phần cứng và phần mềm đều được update, kể cả giao diện sử dụng cũng được thay thế theo chiều hướng dễ dàng và tiện dụng hơn. Các mâm của Feickert Woodpecker sử dụng cơ chế quay chạy dây cua-roa (belt-drive) với 1 điểm đặc biệt là phần motor DC được kiểm soát bằng phần mềm, đây cũng là ngoại hình duy nhất/ của Dr. Feickert Analogue.

Đầu đĩa than Woodpecker có khả năng sử dụng linh hoạt với cần tay từ 9 – 12 inch nhờ ngoại hình armboard cho phép trượt (không cần thay armboard). Chassis của Woofpecker có kích thước thước 480x380x140 (mm), nặng 13,5 kg, hợp tác cùng mâm quay có trọng lượng khoảng 6kg, tổng trong lượng của đầu đĩa than lên tới xấp xỉ 20kg (chưa tính cần). Có năm nút nhấn phía góc trái của mâm than, trong đó 3 nút cho phép ưa chuộng tốc độ chuẩn (33/45/78), 2 nút còn lại cho phép hiệu chỉnh tăng/giảm hết tầm tốc độ.
Feickert Woodpecker phiên bản dành cho phân khúc Mỹ có phần nhôm trên cùng chassis được sơn tĩnh điện màu đen và các nhân tố khác cũng được sơn bóng màu đen piano (nếu áp dụng gỗ rosewood sẽ có giá tốt hơn 500 USD). Riêng mâm quay cũng được làm tăng sang ngoại hình The High Inertia Platter, loại mâm có chèn thêm các ống trụ đồng giúp giảm tối thiểu nội chấn và cộng hưởng của thân mâm quay. ngoại hình này cũng được rất nhiều nhà xuất ra mâm đĩa than sử dụng.

Theo Feickert Thông báo, phần trục mới có bề ngoài đảo ngược giúp giảm diện tích tiếp xúc giữa các ngoại hình/ đến 80% mà ko làm giảm độ vững chắc như các ngoại hình trước đây, ngăn cộng hưởng nội 1 cách rất hiệu quả. bên cạnh đó, cơ cấu trục quay còn được gia công thêm các đường rãnh xoắn ốc cho phép bơm dầu bôi trơn cho trục. Và hãng cũng thiết kế đi kèm một vít xả dầu cho phép dầu dư thừa được đẩy ra ngoài, kết quả là phần động cơ tương tác tốt hơn và sai số thấp hơn.

Mâm quay High Inertia Platter được làm bằng nhựa POM (Polyoxymethylene – Delrin) với tám khối đồng MS58 được gia công 1 cách chính xác dọc theo phần rìa ngoài của mâm. Ngoài chức năng chống rung cộng hưởng, các khối đồng còn đóng vai trò cân bằng và dòng bỏ độ lệch tâm của mâm quay. Và tất nhiên, việc gia nâng thêm trọng lượng của mâm quay từ các khối đồng sẽ giúp cải thiện sự ổn định tốc độ. Nhà xuất ra cũng cho biết, mâm quay bộ phận Derlin của Woodpecker được nhuộm trước khi tiện tạo hình khối và được gia nhiệt hai lần để giảm sức ép. Sau đó, Delrin được cắt ra với bề dầy 60mm và lại tiếp tục qua hai lần gia nhiệt để chắc chắn mâm quay bằng phẳng, tròn đều, cân bằng.
Khi mâm đĩa than Dr. Feickert Analogue Woodpecker được sở hữu gói tuỳ chọn 1500 USD, nhà phân phối sẽ bao gồm 1 cần Jelco 12’ và máng Acoustical Systems Arché. Máng Arché ngoài việc điều chỉnh cơ bản độ tiếp tuyến và độ nghiêng trái/phải của cartrdige, nó còn cho phép hiệu chỉnh góc của kim ngay tại máng (SRA). ưu dụng SRA cho phép kết hợp linh hoạt hơn với cần tay không hỗ trợ điều chỉnh VTA.

Âm thanh
Ortofon Cardenza Brone áp dụng chung mũi kim stylus của các cartridges đầu bảng như MC Anna, MC A90, MC Windfeld, and Xpression chỉ khác biệt ở cấu trúc ống kim.
Việc thiết lập mâm Feickert Woodpecker cũng ko có gì quá phức tạp, vẫn là những bước quen thuộc với sự trợ giúp của một số phụ kiện thiết lập kim/cần. Vì chúng tôi có sẵn một máng Arché, nên đã lắp thêm kim VDH Colibri. Sau khi tinh chỉnh,chúng tôi có thể nghe thấy màu âm của Colibri rất rõ khi chạy trên mâm Woodpecker.
Trở lại với thiết kế dùng kim Ortofon Cadenza Bronze, “dạo” một vài LP, chúng tôi rất ngạc nhiên với khả năng thể hiện âm sắc rất phong phú, tưởng chừng như đang nghe cartridge MC Anna chất lượng hơn. Chúng tôi tiếp tục có 1 chút thay đổi, phần dây nối cần được chuyển sang cáp Graham IC-70. Hiệu quả âm thanh thay thế khá rõ và theo chiều hướng tích cực hơn. rõ ràng, chúng tôi nghe được nhiều chi tiết hơn, có lực và không hề xuất hiện bất kì sự chói hay căng tiếng nào.
Sau một khoảng thời gian thử nghiệm, chúng tôi lại đổi sang sử dụng cartridge Lyra Skala (cùng trên máng Arché), và Như vậy, chúng tôi có thể thay đổi dễ dàng giữa kim Ortofon Cadenza Bronze và Lyra Skala với một chút hiệu chỉnh lực tì. phối hợp với kim Lyra mang lại hiệu quả thiết kế phần nhiều tối ưu, bởi chi phí cho cartridge không đến một nửa so với chi phí mâm. Chúng tôi giữ nguyên set-up này và trải nghiệp thường xuyên mâm trong những ngày liền.

Tiếp tục thử vận may, tôi quay trở lại sử dụng kim VDH Colibri. Tuy nhiên, 1 vấn đề nghị hiện, do rãnh trên máng Arché quá ngắn đối với kim Colibri nên khoảng cách thiết lập chưa thật max từ đầu cần đến trục. Nhưng nhờ cơ chế armboard động, nên chỉ cần nhích lùi armboard ra phía sau 2mm là chúng tôi đã có thể set-up kim VDH Colibri 1 cách hoàn hảo mà không cần phải thay máng khác.
Sau khi được thiết lập đúng, âm thanh của kim Colibri rất khá. Âm thanh nhanh và chi tiết, bắt kịp từng nốt nhạc. CartridgeVDH Colibri có độ ngân ít, điều này làm cho nhạc cụ nghe được tổng quát và dứt khoát hơn, kèm theo đó có 1 chút ấm áp của phần trầm (mặc dù nó mềm hơn so với các kim khác). Mâm Woodpecker đã ko can thiệp bất kỳ âm thanh nào mà chỉ truyền tải hoàn toàn đúng chất âm stylus một cách trọn vẹn. Chúng tôi chỉ biết ngồi lắng nghe và cảm nhận tốc độ nhanh như chớp của sự hợp tác này.
Mặc dù khả năng của Woodpecker là rất ấn tượng trong suốt các buổi thử nghiệm, mâm có thể diễn tả được khá trọn vẹn những ưu và nhược của từng catridge, tuy nhiên, tôi vẫn thấy tiếng ồn nền của nhân tố cao hơn một chút đối với mâm tham chiếu (đắt tiền hơn nhiều). Tiếng ồn rất nhỏ nhưng vẫn nghe rõ và có thể Đây là sự khác biệt giữa các đời thấp và cao. Tôi tin các ngoại hình trục của Woodpecker là khá tốt và rất yên tĩnh khi vận hành nên rất có thể tiếng ồn gây ra từ các khớp nối động cơ với khung chasis.

Mâm đĩa than này mang lại cho chúng tôi 1 khái niệm mới về mức độ tập trung trong âm thanh. Woodpecker cũng là một thiết kế mâm ko có cơ chế chống rung bên trong, nhà phân phối và nhà xuất ra cho rằng Đó là bề ngoài giới hạn về hiệu suất giá, tại mức giá này, tốt nhất là tập trung tối đa vào các thông số liên quan đến việc phát lại âm thanh. Họ cảm thấy việc chống rung cho mâm nên do người nghe thiết lập tùy theo từng tình huống sử dụng.

Dr. Feickert Analogue Woodpecker đã cho thấy khả năng phát lại LP rất tốt của mình. Cùng với phần mâm quay sử dụng công nghệ High Inertia, trình điều chỉnh được phát triển, phần trục quay được bề ngoài lại, khả năng set up/ đặt nhanh hệ thống cần kim hợp tác máng Arché khiến cho mâm than trở nên vững chãi và ổn định cao. một mệt tố đáng giá của Woodpecker chính là nó giúp bạn chơi và khai thác tối đa cả với những cây kim đắt tiền hơn đối với chính chiếc mâm.